Những điều cần biết về tượng thập bát La Hán trong phật giáo

Tượng 18 vị La Hán là một trong những biểu tượng đặc trưng không thể thiếu trong phật giáo. Hầu như ở khắp các ngôi chùa đều trưng bày và thờ tượng thập bát La Hán. Vậy bạn biết gì về tượng thập bát La Hán? Ý nghĩa của thập bát La Hán là gì? Hãy cùng chúng tôi theo dõi bài viết dưới đây để tìm hiểu về sự tích và ý nghĩa của tượng thập bát La Hán trong phật giáo?

Sự tích và ý nghĩa của thập bát La Hán

  1. La Hán Tọa Lộc

La Hán Tọa Lộc vốn tên là Tân-đầu-lô-phả-la-đọa, xuất thân từ dòng Bà-la-môn, đây là một triều đại danh tiếng của vua Ưu Điền. Đương thời, ngài quyết định xuất gia, rời bỏ triều đình vào rừng tu tập. Khi thành chính quả, ngài cưỡi hươu về triều khuyến hóa vua nên được tặng danh hiệu La Hán cưỡi nai.

Khi cưỡi nai về triều đình, các vệ sĩ đã nhận ra ngài rồi bẩm báo, nhà vua đã đích thân nghênh tiếp ngài và cho phép ngài có thể quay lại làm quan như xưa nếu muốn. Tuy nhiên, ngài đã từ chối và với với nhà vua rằng ngài quay về để khuyên nhà vua xuất gia. Sau khi đàm luận nhà vua đã bị thuyết phục bởi Ngài nên đã nhường ngôi cho thái tử mà xuất gia.

La Hán Tọa Lộc là một trong những đại đệ tử của Phật. Ngài có âm thanh hùng hồn, vang dội như sư tử rống có thể dẹp tan luận nghị ngoại đạo, xiển dương chính pháp. Nhưng ngài lại có yếu điểm là thể hiện những thần thông trước mặt mọi người, nhiều lúc với những mục đích không lợi lạc.

Theo như cuốn kinh tạp A Hàm 23, trong một lần con gái trưởng giả Cấp Cô Độc thỉnh Phật cùng chư Thánh Tăng đến Phú Lâu Na Bạt Đà Na thọ trai thì các vị thánh tăng khác đều dùng phép thần thông bay trên hư không đến. Nhưng La Hán Tọa Lộc thì lị dùng sức thần thông để hiệp các núi lớn đến thọ thỉnh. Biết được điều đó, đức Thế Tôn đã phạt ngài ở lại đời để hộ trì chính pháp không được nhập cõi Niết Bàn.

Trong một lần khác, theo Kinh tạng Pali và tạng Luật thì Ngài đã thị hiện thần thông bay lên hư không rồi dùng một bình bát bằng gỗ chiên đàn trên một cây cao sau đó bay lơ lửng trên đầu của những người kính mộ rất lâu. Biết được chuyện này, đức Phật đã trách phạt và cấm dùng bình bát bằng gỗ trầm hương và không được nhập cõi Niết Bàn mà ở lại cõi Ta Bà để hộ trì Phật pháp cho tới khi phật Di Lặc ra đời.

Ngài La Hán Tọa Lộc trụ thế từ thời đức Phật còn ở thế gian và ngài đã rất nhiều lần hiển hiện để khuyến tấn nhiều phật tử thuần thành vì đạo. Tại Ấn Độ, người ta đã từng có tục cúng dường chư Tăng và thỉnh mời ngài La Hán Tọa Lộc, người ta dành riêng một cánh cửa cho ngài. Tuy không thể nhìn thấy ngài nhưng người ta cho rằng sự hiện diện của ngài thể hiện qua những bông hoa hay tấm thảm dành riêng cho ngài.

Khi vua A Dục tổ chức cung thỉnh 60000 vị Thánh Tăng thì Ngài đã cung thỉnh nhập vào Thánh chúng, bay như hạc đến dự và được đề cử làm chủ tọa bởi là bậc trưởng thượng với bộ dạng là một vị Thánh Tăng trưởng lão, râu tóc bạc phơ, lông mi dài.

Đối với những Phật tử Trung Hoa thì người ta lại biết đến ngài qua cái tên Trường Mi Tăng có nghĩa là vị Thánh Tăng có lông mi dài.Vào thời Đông Tấn thì vị La Hán Tọa Lộc đã hiển thị sang Trung Quốc để ấn chứng sự hoằng Pháp luật học của Luật sư Đạo Tuyên. Vì thế mà từ đời Đường trở đi, các phòng ăn đều có đặt tượng Ngài ở đó. Tượng của ngài đã được một đại sư đời Đường là Thiền Nguyệt Quán Hưu họa lại với thế ky tọa trên sườn núi, tay phải duỗi ra, tay trái cầm gậy, lưng tựa vào vách núi, đầu gối chân có đặt quyển kinh, mắt hướng thẳng về phía trước. Còn tại Nhật Bản thì tượng của ngài được bài trí ở hành lang tự viện và ở đây người ta quan niệm xoa vuốt tượng ngài để cầu bình an, hết bệnh tật được gọi là Phủ Phật.

La Hán Tọa Lộc (Tần-đầu-lô-phả-la-đọa) được Pháp Trụ Ký xếp là vị La Hán thứ nhất cùng với 1000 vị La Hán ở Tây Ngưu Hóa Châu, ngài là một vị La Hán rất gần gũi với nhân gian.

  1. La Hán Khánh Hỷ

La Hán Khánh Hỷ vốn tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha hay còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Ngài được Đức Phật khen là vị La Hán phân biệt thị phi trắng đen rõ ràng nhất. Xưa khi chưa xuất gia thì Ngài vốn là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn và ý tứ từ lời nói cho tới hành động. Sau khi ngài đã xuất gia thì lại càng trở nên khuôn phép hơn, không bao giờ cho một ý nghĩ xấu xa nào khởi phát mà luôn nỗ lực tinh thần tu tập chính vì nhờ thiện căn sâu dày mà ngài đã tu thành chính quả La Hán rất nhanh chóng.

La Hán Khánh Hỷ thường đi du hóa khắp nhân gian, khuôn mặt luôn tươi cười rạng rỡ và dùng biệt tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sinh, giảng giải đạo lý nhân quả thiện ác để giúp cho chúng sinh có thể phân biệt được phải trái, trắng đen rõ ràng để sửa đổi.

Tương truyền, một lần nọ, ngài đi quan một thôn trang thấy người ta đang giết rất nhiều trâu, dê, gà, vịt,,,để làm lễ mừng thọ nên ngài đã dừng lại ghé vào thuyết giảng về phương pháp chúc thọ, mừng thọ làm sao để được hạnh phúc, sống lâu và cách đền đáp ơn sinh thành. Ngài đã dạy rằng, sinh nhật chính là ngày khó khăn đau đớn của người mẹ nên tới ngày sinh nhật thì phận làm con không nên ăn chơi sa đà mà nên tịnh tâm suy ngẫm về ân đức của mẹ cha đã sinh thành và nuôi nấng mà quyết tu tập tạo dựng sự nghiệp để sau đền đáp công ơn.

Thông qua những bài giảng vô cùng chân thành, ngài được coi như ngọn hải đăng đem ánh sáng của Phật soi sáng, dẫn đường cho chúng sinh nhân loại. Theo sách Pháp Trụ Ký thì, La Hán Khánh Hỷ là vị La Hán thứ hai cùng với 500 vị La Hán trụ tại Ca-thâp-di-la.

Những điều cần biết về tượng thập bát La Hán trong phật giáo

  1. La Hán Cử Bát

La Hán Cứ Bát có tên là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà. Ngài vốn là một đại đệ tử của đức Phật được giao phó trách nhiệm giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.

Tại Nam Hải, quốc vương nước Tăng-già-la vốn không tin vào Phật giáo nên ngài đã tìm mọi cách hóa độ cho nhà vua nên cuối cùng về sau nhà vua đã cho tạc tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và hết lòng tin tưởng vào Phật pháp.

Vị Ca-nặc-ca được miêu tả lại với hình tượng tay luôn cầm một chiếc bát sắt để đi khất thực, du hành nên được gọi là La Hán Cử Bát. La Hán Cử Bát là vị La Hán thứ 3 cùng với 600 vị La Hán  trú tại Đông Thắng Thần Châu.

  1. La Hán Thác Tháp

La Hán Thác Tháp có tên gọi là Tô-tần-đà. Ngài vốn là người tu tập rất tinh nghiêm, thường xuyên giúp người rất nhiệt tình nhưng lại ít nói chuyện. Ngài thường ít khi theo đức Phật ra ngoài và chỉ tinh xá quét sân hoặc đọc sách.  Chính vì dành trọn thời gian tọa thiên nên ngài thành chính quả La Hán rất sớm.

Ngài là một trong những đệ tử cuối cùng của đức Phật nên đi đâu cũng cầm tháp nhỏ trong tay để ghi nhớ công đức của Thế Tôn cũng như pháp thân của Phật thường trụ mãi bất diệt. Cũng chính vì vậy ngài được gọi là La Hán Nâng Tháp. Theo như Pháp Trụ Ký ghi lại thì ngài là vị La Hán thứ 4 cùng với 700 vị La Hán trụ ở Bắc Câu Lô Châu.

  1. La Hán Tĩnh Tọa

La Hán Tĩnh Tọa tên là Nặc-cù-la hay Nặc-cự-la. Tương truyền ngài thuộc giai cấp Sát-đế-lợi có sức mạnh vô song, cuộc sống chỉ có chiến tranh. Sau khi xuất gia theo Phật, ngài tu thành chính quả trở thành La Hán trong tư thế tĩnh tọa. Xưa kia, ngài vốn là một võ sĩ nên khi xuất gia vẫn vận dụng sức lực khi hành thiền. Ngài là một trong những vị đại đệ tử của Phật. Ngài có hình ảnh như một vị thầy, tay cầm một chuỗi tràng và có một chú tiểu đứng cạnh. Tượng ngài được đại sự Thiền Nguyệt vẽ lại với tư thế đang ngồi trên phiến đá, hai tay cầm cây Như Ý hình dáng như một đứa bé, đặt trên vai trái dáng giống như đang gãi lưng. Ngài thường sống đơn độc, không có đệ tử, không bao giờ thuyết một bài pháp nào, chưa từng có bệnh tật và sống rất lâu.

Theo Pháp Trụ Ký viết thì tôn giả Nặc-cự-la là vị La Hán thứ 5 cùng 800 vị La Hán trụ ở Nam Thiệm Bộ Châu.

  1. La Hán Quá Giang

La Hán Quá Giang có tên gọi là Bạt-đà-la hay còn gọi là Hiền bởi ngài được mẹ sinh ra dưới cây Bạt-đa tức là cây Hiền.

Truyền thuyết kể lại rằng, ngài vốn rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm rất nhiều lần có ngày tắm tới 10 lần nên dẫn tới mất nhiều thời gian cho việc tắm khiến công việc trễ nải. Việc này tới tai đức Phật nên đức Phật đã kêu ngài tới và chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, bên cạnh việc tắm rửa thân thể cong phải tẩy rửa sạch trong tâm, loại bỏ các tham sân si để thân thể trở nên thanh tịnh. Nghe lời và thực hiện lời dạy của đức Phật nên chẳng bao lâu thì ngài đã thành chính quả và trở thành La Hán.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì ngài là vị La Hán thứ 6 cùng với 900 vị La Hán trụ tại Đam-môt-la-châu Tích Lan hoặc Nam Dương.

  1. La Hán Kỵ Tượng

La Hán Kỵ Tượng có tên gọi là Ca-lý-ca. Khi xưa chưa xuất gia thì ngài làm nghề huấn luyện voi. Chính vì vậy khi xuất gia tu thành chính quả ngài được gọi là Ca Lý bởi theo tiếng Phạn có nghĩa là voi, Ca Lý Ca có nghĩa là người cưỡi voi.

Xuất thân vốn là người chăn voi nên khi tu thành chính quả, để tưởng nhớ nghề nghiệp của ngài nên hình ảnh của ngài thường kèm theo một con voi đi cùng. Bên cạnh đó, ngài còn được gọi với tên khác là Sư Tử Vương Kala được vua Tần Bà Sa La rất kính trọng. Hình ảnh của ngài được thể hiện với tư thế ngồi thiền hoặc đọc kinh hoặc có thể là tay cầm lá.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì Ca-ly-ca là vị La Hán thứ 7 cùng 1000 vị La Hán thường trụ tại Tăng Già Trà Châu của Tích Lan.

  1. La Hán Tiếu Sư

La Hán Tiếu Sư có tên là Phạt-xà-la-phất-đa-la. Tương truyền khi chưa xuất gia thì ngài vốn làm nghề thợ săn, có sức khỏe phi thường, thể lực tráng kiện có thể nhấc bổng con voi bằng một tay hoặc ném con sư tử xa cả hơn 10m nên muông thú gặp ngài đều khiếp sợ. Sau này, khi đã xuất gia, ngài luôn nỗ lực tu luyện để đạt thành chính quả La Hán và bên cạnh ngài thường có một con sư tử quấn quýt bên cạnh nên người ta thường gọi ngai với biệt hiệu La Hán đùa Sư Tử.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì ngài là vị La Hán thứ 8 cùng với 1100 vị La Hán trụ Châu Bát-thích-noa.

  1. La Hán Khai Tâm

La Hán Khai Tâm có tên gọi là Thú-bác-ca. Khi chưa xuất gia, Ngài vốn là người Bà-la-môn, khi nghe nói thân Phật cao một trượng sáu nên ngài không tin nên đã chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đọ Phật nhưng dù đo bằng cách nào thì đức Phật đều cao hơn khiến ông mới khâm phục và xin quy y làm đệ tử của đức Phật.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì ngài là vị La Hán thứ 9 cùng với 900 vị La Hán trụ trong núi Hương Túy.

  1. La Hán Thám Thủ

La Hán Thám Thủ có tên gọi là Bán-thác-ca. Tương truyền thì ngài vốn là một vị hoàng tử của tiểu quốc Kinota. Sau khi xuất gia thì ngài thường thích ngồi thiền bán già. Mỗi khi thức dậy thì ngài thường giơ tay lên cao hít một hơi dài vì vậy mà ngài được gọi là La Hán Giơ Tay.

Ngài vốn là người dòng Bà-la-môn rất giỏi về bốn minh, sáu tác, xướng tựng, thư toán, trí tuệ cao siêu và có 500 đồng tử theo học. Tuy nhiên, về sau nghe đức Phật thuyết giáp nên ngài xuất gia và chẳng bao lâu sau tu thành La Hán. Ngài là một trong những đại đệ tử của đức Phật.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì Bán-thác-ca là vị La Hán thứ 10 cúng 1100 vị La Hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.

Những điều cần biết về tượng thập bát La Hán trong phật giáo 1

  1. La Hán Trầm Tư

La Hán Trầm Tư có tên gọi là La-hầu-la. Theo truyền thuyết kể lại thì ngài được sinh ra vào đúng lúc nguyệt thực nên còn có tên gọi khác là Chướng Nguyệt. Ngài là một trong những đại đệ tử của Phật, cha ngài là Thái tử Tất Đạt Đa – người là đức Phật sau này, mẹ là công chúa Da Du Đà La. Ngài là vị Sa Di đầu tiên trong giáo đoạn của Phật, tuy nhiên khi là Sa Di thì ngài thường nhiều lần làm chuyện không đúng pháp nên được Phật răn dạy. Sau đó ngài đã tu tinh tấn tu hành, giữ nghiêm giới luật và thành chính quả La Hán. Sau khi thành La Hán thì ngài vẫn lặng lẽ tu tập nên đã được đức Phật khen tặng là Mật hạnh đệ nhất. Cũng từ đó mà ngài có danh hiệu La Hán Trầm Tư.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì ngài là vị La Hán thứ 11 cùng với 1100 vị La Hán trụ ở Tất-lợi-dương Cù Châu.

  1. La Hán Khoái Nhĩ

La Hán Khoái Nhĩ có tên gọi là Na-già-tê-na hay còn gọi là Na Tiên. Theo tiếng Phận thì tên ngài có nghĩa là đội quân của rồng tượng trưng cho sức mạnh siêu nhiên. Ngài được sinh ra ở miền Bắc Ấn Độ. Ngài là một vị La Hán nổi tiếng về tài biện luận.

Ngài có xuất thân từ dòng Bà-la-môn. Khi chưa xuất gia ngài theo học giáo nghĩa Phệ Đà nhưng ngài cảm nhận rằng thấy ít điều thiện trong đó nên đã tìm đến cầu học tôn giả Lâu Hán. Sau đó ngài xuất gia tu học luận tạng và 7 bộ A Tỳ Đàm.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại, Ngài là vị La-hán thứ mười hai cùng 1.200 vị La Hán trụ trong núi Bán-độ-ba.

  1. La Hán Đại Bố

La Hán Đại Bố tên là Nhân-yết-đà. Tương truyền ngài là một người bắn rắn ở Ấn Độ, ở đây vốn rất nhiều rắn độc hay cắn người nên ngài thường bắt chúng bẻ hết răng nanh độc rồi lại thả chúng lên núi. Hành động của ngài được xem như biểu trưng của sự từ bi. Sau này khi xuất gia đắc đạo người vẫn thường mang túi vải bên mình để đựng rắn.

La Hán Đại Bố có hình dáng mập mạp, bụng to, mặt tươi cười và thường đeo bên mình túi vải lớn. Theo Pháp Trụ Ký ghi lại, ngài là vị La Hán thứ 13 cùng với 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

  1. La Hán Ba Tiêu

La Hán Ba Tiêu vốn tên là Phạt-na-bà-tư. Tương truyền, mẹ ngài vào rừng vãn cảnh gặp cơn mưa to dữ dội, trong lúc ấy bà đã hạ sinh ra ngài. Khi lớn lên, xuất gia theo Phật ngài thường thích tu trong rừng núi và thường đứng dưới các gốc cây chuối nên người ta gọi ngài là La Hán Ba Tiêu. Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La Hán thứ 14, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

Trong một lần Đức Phật hàng phục con yêu long tại một cái đầm sâu, yêu long cảm phục ân đức của Phật nên xin Phật lưu lại để được gần gũi, cúng dường. Tuy nhiên, theo Phật dạy thì không thể ở lâu một chỗ vì thế Ngài đã cử 5 vị La Hán đến là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Nhân Kiệt Đa, Tô Tần Đà, Phạt Na Bà Tư. Khi mà Phạt – na – ba – tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường của yêu long thì người thường tọa thiền trên phiến đá lớn cạnh đầm cả tuần thậm chí có khi là nửa tháng.

Những điều cần biết về tượng thập bát La Hán trong phật giáo 2

Nghe theo lời giao phó của Đức Phật, tôn giả Phạt-na-bà-tư lưu tâm vào việc hóa độ cho vua Ca-ni-sắc-ca. Một lần, nhân dịp nhà vua đi săn, tôn giả đã hóa thành con thỏ trắng để dẫn đường cho nhà vua đến gặp một mục đồng đang nặn tháp Phật bằng bùn đất. Khi gặp, mục đồng đã nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại chính nơi này. Vị mục đồng ấy chính là hóa thân của tôn giả Phạt-na-ba-tư. Từ khi gặp mục đồng thì nhà vua trở thành bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp cho xây chùa tháp tự viện, ủng hộ việc cúng dường tăng chúng, thường xuyên tổ chức kiết tạp kinh điển Phật giáo tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu đạt được này của nhà vua đều nhờ vào sự âm thầm giáo hóa của Phạt-na-ba-tư.

  1. La Hán Trường Mi

La Hán Trường Mi có tên gọi là A-thị-đa thuộc dòng dõi Bà-la-môn của nước Xá-vệ. Tương truyền ngài từ khi mới sinh ra đã có lông mày dài rủ xuống. Sau khi xuất gia thì ngài đã phát triển thiền quán và tu thành chính quả La Hán. Khi tu thành chính quả ngài vẫn du hóa trong nhân gian.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại thì ngài là vị La Hán thứ 15 cùng 1.500 vị La Hán trụ trong Linh Thứu Sơn.

  1. La Hán Kháng Môn

La Hán Kháng Môn có tên gọi là Chú-trà-bán-thác-ca hay còn gọi là Châu-lợi-bàn-đặc. Theo truyền thuyết thì ngài được coi như một tấm gương mẫu mực về sự cần cụ nhẫn nại. Vốn là người không thông minh, không tiếp thu được Phật pháp nhưng về sau được đức Phật chỉ dạy ngài thực hành pháp môn quét rác với chiếc chổi trên tay. Chính nhờ sự kiên trì, quyết tâm thực hành lời dạy của đức Phật, ngài đã tu thành chính quả trở thành La Hán.

Theo Pháp Trụ Ký ghi lại, ngài là vị La Hán thứ 16 cùng 1.600 vị La Hán thường trú tại núi Trì Trục.

  1. La Hán Hàng Long

La Hán Hàng Long có tên gọi là Nan-đề-mật-đa-la. Ngài ra đời sau đức Phật diệt độ 800 năm, tại nước Sư Tử. Ngài được coi là vị La Hán rất thần thông quảng đại có đạo hạnh nghiêm trang.

Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la được tôn là vị La Hán thứ 17 do ngài có công thuật lại kinh Pháp Trụ ký do đức Phật thuyết giảng.

  1. La Hán Phục Hổ

La Hán Phục Hổ có tên là Đạt-ma-đa-la hay còn gọi là Tần-đầu-la, người núi Hạ Lan, Cam Túc. Thuở bé thì ngài thường hay tới chùa để chiêm ngưỡng tượng 16 vị La Hán trong chùa. Ngài rất siêng năng lê kính đức Phật và theo một vị La Hán để học cách tu tập thành chính quả, nên chẳng lâu sau ngài đã thành chính quả La Hán.

Những điều cần biết về tượng thập bát La Hán trong phật giáo 3

Khi thành chính quả, ngài thường du hóa nhân gian, giảng giải thuyết pháp, ra tay cứu giúp chúng sinh khi gặp tai nạn. Ngài đã từng 3 lần thu phục con hổ dữ về núi cho tu và thuần phục được nó nên đi đau cũng dẫn đi theo. Từ đó ngài có biệt hiệu là La Hán Phục Hổ. La Hán Phục Hổ được tôn làm vị La Hán thứ 18.

Bài viết trên đây là những chia sẻ của chúng tôi về sự tích và ý nghĩa của thập bát La Hán trong đạo Phật. Hy vọng với những thông tin chúng tôi đưa ra đã giúp cho các bạn có thêm kiến thức về tượng La Hán đá thường thờ tại các ngôi chùa.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *